Pages: [1] 2 3 4 Go Down
  Print  
Author Topic: Photoshop và xử lý ảnh đơn giản (Read 12647 times)
0 Members and 1 Guest are viewing this topic.
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« on: April 08, 2007, 12:57:40 pm »

Chị thấy nhiều bạn hỏi về xử lý ảnh trong Photoshop nên làm cái Topic giới thiệu ở đây, ai quan tâm thì nghiên cứu này :D. Nhìn chung dân ta thích biết Shop để nghịch là chính  :)) chứ chưa thấy ai hỏi kiểu Prồ (chị thì ko Pro lắm nhưg mà nhìn chung là nghiên cứu để làm việc chứ ko phải chơi :D ) thế nên ở đây chỉ giới thiệu cho dân Amater thôi  :P


Bài đầu tiên là giới thiệu chung về ảnh này  :D. Bài này giới thiệu định dạng file ảnh mới, còn mấy cái cũ cũ chắc ai cũng biết cả rồi  ;;)

Giới thiệu thế hệ định dạng file ảnh

GIF và JPEG sẽ phải nhanh chóng nhường chỗ cho JPEG 2000, một dạng file hình nén thế hệ mới mạnh hơn, với nhiều kỹ thuật mới trên nền tảng những ưu điểm của JPEG cũ như 24 triệu màu, khả năng nén cao, sử dụng được trên mọi môi trường..


GIF và JPEG sẽ phải nhanh chóng nhường chỗ cho JPEG 2000, một dạng file hình nén thế hệ mới mạnh hơn, với nhiều kỹ thuật mới trên nền tảng những ưu điểm của JPEG cũ như 24 triệu màu, khả năng nén cao, sử dụng được trên mọi môi trường...


JPEG 2000 áp dụng một kỹ thuật nén mới để lưu trữ dữ liệu ảnh, thay thế định dạng nén file hiện thời là DCT (Discrete Cosine Transformation). Nếu DCT nén ảnh theo từng khối vuông nhỏ rồi lưu chúng dưới dạng số thì kỹ thuật Wavelet Compression sẽ lưu file dưới dạng một dãy dữ liệu (kỹ thuật stream hình) nhằm tạo độ phân giải cao hơn khi file được mở hoặc tải về.



Lợi ích đầu tiên của Wavelet là loại trừ được những "vết dơ" bao quanh các khối vuông và biến ước mơ hình có độ phân giải cao trên mạng thành hiện thực. Các nhà thiết kế có nhiều khả năng lựa chọn khi lưu và tải ảnh lên mạng, không hạn chế độ phân giải và dung lượng: từ những hình chỉ để xem trên màn hình thông dụng 96dpi cho tới những hình óc độ phân giải đáp ứng nhu cầu in ấn 300 dpi đến 600 dpi - độ phân giải khiến ảnh có thể tái sử dụng ở những mục đích khác mà không ảnh hưởng tới chất lượng.


Khả năng người dùng Internet, chỉ sau vài thao tác chỉnh sửa tuỳ chọn trong Web Browser, có thể tải về hình ở độ phân giải mặc định 96 dpi hoặc 300-600 dpi để dùng cho in ấn. Tất cả những dữ liệu ảnh đó, từ 96 dpi cho đến 600 dpi đều được lưu trong cùng một file với định dạng theo kiểu mới: JPEG 2000.


Với định dạng mới, các nhà thiết kế có thể cài đặt các đoạn mã về bản quyền, xuất xứ... của ảnh và an tâm rằng khả năng tồn tại của các thông tin này là rất cao - cho dù ảnh có bị chỉnh sửa hay thay đổi kích cỡ đi chăng nữa. Ðây là một điểm mạnh của JPEG 2000 so với các mã truyền thống theo thuật "Watermaking".
Khả năng tạo thêm các kênh phụ để lưu trữ những thông tin như thông số màu CMYK hay ICC profiles (nhằm loại bỏ sự khác biệt về Gamma màu giữa PC và MAC) đã được đưa vào JPEG 2000. Một ảnh JPEG 2000 có thể lưu giữ đến 256 kênh thông tin khác nhau, một tính năng rất hữu ích cho các nhà sản xuất phần mềm và phần cứng muốn gửi thông tin chuyên biệt đến tay khách hàng. Nhà sản xuất phần mềm có thể muốn cài những thông tin về thư viện ảnh cùng dịch vụ liên quan, nhà sản xuất phần cứng cài thông tin về nhà thiết kế và các đại lý phân phối máy ảnh kỹ thuật số...

Tuy nhiên Jpeg 2000 còn một số nhược điểm như:

1. Chất lượng chưa cao
2. không có khả năng nén mất mát thông tin
3. No tiling
4. Khả năng phục hồi lỗi kém.

CTBer tích cực
****


Trance Angels


Đánh giá: +3/-1
Offline Offline
Gender: Male
Posts: 444
« Reply #1 on: April 08, 2007, 01:10:02 pm »

Hix chị ơi  :( Đọc cái này đâu đầu lắm :) Chị post lun cách xử lý và các bước xử lý ảnh đi chứ đọc về các định dạng này vừa loằng ngoằng mà không thít thực cho dân Amater như em chẳng hạn  :-"
Còn cái vẽ vời kia không hay, không thít thực bởi vì các bạn muốn nghịch Shop thường là làm việc với các đối tượng cụ thể mà ;;)
Thx kiu bà chị iu wuái nhìu :P
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #2 on: April 08, 2007, 01:21:12 pm »

Chú có trật tự ko nào, để chị pọt nốt phần còn lại của "Định dạng ảnh" đã chứ. Giờ chú chưa biết nhưng cái này nó là cơ bản nhất đấy. Ko bít thì đừng có lò mò vào mà làm Shop :))

Định dạng ảnh GIF - Graphics Interchanger For         


GIF được phát triển bởi Computer Server. Mặc dù GIFFile có kích thước nhỏ nhờ thuật toán nén LWZ với chiều dài biến động, GIFFile chỉ giới hạn ở 256 màu

GIF: được phát triển bởi Computer Server. Mặc dù GIFFile có kích thước nhỏ nhờ thuật toán nén LWZ với chiều dài biến động, GIFFile chỉ giới hạn ở 256 màu.

¨Chữ ký của ảnh.
¨Bộ mô tả hiển thị.
¨Bản đồ màu tổng thể.
¨Mô tả một đối tượng của ảnh.
.Dấu phân cách.
.Bộ mô tả ảnh.
.Bản đồ màu cục bộ.
.Dữ liệu ảnh.

GIF note
GIF Header (7 byte)
Global Palette-SIZE: 13pt">4
Giá trị màu xanh lơ theo index 1
Màu Green
5
Giá trị màu xanh lơ theo index 1
Màu Blue
6
Giá trị màu xanh lơ theo index 0

Bộ mô tả ảnh: định nghĩa vị trí thực tế và phần mở rộng của ảnh trong phạm vi không gian ảnh đã có trong phần hiển thị. Nếu ảnh biểu diễn theo ánh xạ bản đồ màu cục bộ thì cờ định nghĩa phải được thiết lập. Mỗi bộ mô tả ảnh được chỉ ra bởi ký tự kết nối ảnh. Ký tự này chỉ được dùng khi định dạng GIF có từ 2 ảnh trở lên. Ký tự này có giá trị 0x2c (ký tự dấu phẩy). Khi ký tự này được đọc qua, bộ mô tả ảnh sẽ được kích hoạt. Bộ mô tả ảnh gồm 10 byte .

.Bản đồ màu cục bộ: bản đồ màu cục bộ chỉ được chọn khi bit M của byte thứ 10 là 1. Khi bản đồ màu cục bộ được chọn, bản đồ màu sẽ chiếu theo bộ mô tả ảnh mà lấy vào cho đúng . Tại phần cuối ảnh, bản đồ màu sẽ lấy lại phần xác lập sau bộ mô tả ảnh hiển thị .

.Dữ liệu ảnh: chuỗi các giá trị có thứ tự của các pixel màu tạo nên ảnh. Các pixel được xếp liên tục trên một dòng ảnh, từ trái qua phải. Các dòng ảnh được viết từ trên xuống dưới.

.Phần kết thúc ảnh: cung cấp tính đồng bộ cho đầu cuối của ảnh GIF. Cuối của ảnh GIF sẽ được xác định bởi ký tự “;(0x3b).


5
Giá trị màu xanh lơ theo index 1
Màu Blue
6
Giá trị màu xanh lơ theo index 0

Bộ mô tả ảnh: định nghĩa vị trí thực tế và phần mở rộng của ảnh trong phạm vi không gian ảnh đã có trong phần hiển thị. Nếu ảnh biểu diễn theo ánh xạ bản đồ màu cục bộ thì các định nghĩa phải được thiết lập. Mỗi bộ mô tả ảnh được chỉ ra bởi ký tự kết nối ảnh. Ký tự này chỉ được dùng khi định dạng GIF có từ 2 ảnh trở lên. Ký tự này có giá trị 0x2c (ký tự dấu phẩy). Khi ký tự này được đ�?c qua, bộ mô tả ảnh sẽ được kích hoạt. Bộ mô tả ảnh gồm 10 byte .

.Bản đồ màu cục bộ: bản đồ màu cục bộ chỉ được chuẩn khi bit M của byte thứ 10 là 1. Khi bản đồ màu cục bộ được chuẩn, bản đồ màu sẽ chiếu theo bộ mô tả ảnh mà lấy  vào cho đúng . Tại phần cuối ảnh, bản đồ màu sẽ lấy lại phần xác lập sau bộ mô tả ảnh hiển thị .

.Dữ liệu ảnh: chuỗi các giá trị có thứ tự của các pixel màu tạo nên ảnh. Các pixel được xếp liên tục trên một dòng ảnh, từ trái qua phải. Các dòng ảnh được viết từ trên xuống dưới.

.Phần kết thúc ảnh: cung cấp tính đồng bộ cho đầu cuối của ảnh GIF. Cuối của ảnh GIF sẽ được xác định bởi ký tự “;(0x3b).
 
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #3 on: April 08, 2007, 01:26:46 pm »

Hic, chị bít mấy cái này đọc đau đầu mà có khi chả có ma nào đọc :(( nhưng vì đã lỡ nên chị pọt nốt bài này, thuộc về ĐỊnh dạng ảnh. Đây là nhữg kiến thức cơ bản, chú nào định học Shop thì cũng nên biết :D

Định dạng ảnh TIFF         


Ảnh lưu trữ được trên máy tính thông qua một bộ chuyển đổi từ tương tự sang số hoá bằng phuơng pháp lấy mẫu và lượng tử hoá. Bất kỳ một file ảnh nào trên máy tính đều lưu trữ những thông tin sau: Header dữ liệu chứa thông tin ảnh

Ảnh lưu trữ được trên máy tính thông qua một bộ chuyển đổi từ tương tự sang số hoá bằng phuơng pháp lấy mẫu và lượng tử hoá. Bất kỳ một file ảnh nào trên máy tính đều lưu trữ những thông tin sau: Header dữ liệu chứa thông tin ảnh

Phần header: Lưu trữ những thông tin cần thiết của một ảnh (như số bit /pixel, width, height, kiểu nén được sử dụng trong ảnh, bảng màu ...)

Dữ liệu: Tùy theo kiểu nén, bit/pixel mà dữ liệu vùng ảnh có thể lớn hay nhỏ.Ðối với mỗi kiểu file ảnh, ta có phần header mô tả riêng cho từng file khác nhau. Dưới đây là cấu trúc định dạng của một vài file ảnh.

Kiểu định dạng TIFF được thiết kế để làm nhẹ bớt các vấn đề liên quan đến việc mở rộng tệp ảnh cố định. Về cấu trúc, nó cũng gồm 3 phần sau :Phần Header (IFH): có trong tất cả các tệp TIFF gồm 8 byte:           

+1 word: chỉ ra kiểu tạo tệp trên máy tính PC hay Macintos. Hai loại này khác nhau rất lớn ở thứ tự các byte lưu trữ trong các số dài 2 hay 4 byte. Nếu trường này có giá trị 4D4Dh thì đó là ảnh cho máy Macintos; nếu là 4949h thì đó là ảnh của máy PC.           

+1word: version. Từ này luôn có giá trị là 42. Có thể coi đó là đặc trưng của file TIFF vì nó không thay đổi.           

+2word : Giá trị Offset theo byte được tính từ đầu file tới cấu trúc IFD (Image File Directory) là cấu trúc thứ 2 của file. Thứ tự các byte ở đây phụ thuộc vào dấu hiệu trường đầu tiên.

Phần thứ 2 (Image File Directory): Nó không ở ngay sau cấu trúc IFH mà vị trí của nó được xác định bởi trường Offset trong đầu tệp. Có thể có một hay nhiều IFH cùng tồn tại trong file (nếu file có nhiều hơn một ảnh).

Một IFH gồm:           
+2 byte: chứa các DE (Directory Entry).           
+12 byte: là các DE xếp liên tiếp. Mỗi DE chiếm 12 byte.           
+4 byte: chứa Offset trỏ tới IFH tiếp theo.

Nếu đây là IFH cuối cùng thì trường này có giá trị là 0.

Cấu trúc phần dữ liệu thứ 3: Các Directory Entries.
Các DE có độ dài cố định gồm 12 byte và chia làm 4 phần:           
+2 byte: chỉ ra dấu hiệu mà tệp ảnh đã được xây dựng.           
+2 byte: kiểu dữ liệu của tham số ảnh.

Có 5 kiểu tham số cơ bản:                       
1: BYTE (1 byte).                       
2:ASCII (1 byte).                       
3:SHORT (2 byte).                       
4:LONG (4 byte).                       
5:RATIONAL (8 byte).     .           

+4 byte: trường độ dài (bộ đếm) chứa số lượng chỉ mục của 1 kiểu dữ liệu chỉ ra. Nó không phải là tổng số byte cần thiết để lưu trữ. Để có số liệu này ta cần nhân số chỉ mục với kiểu dữ liệu đã dùng.           

+4 byte: đó là Offset tới điểm bắt đầu dữ liệu thực liên quan tới dấu hiệu, tức là dữ liệu liên quan tới DE không phải lưu trữ vật lý cùng với nó nằm ở vị trí nào đó trong file. Dữ liệu chứa trong tệp thường được tổ chức thành các nhóm dòng (cột) quét của dữ liệu ảnh.

 Cách tổ chức này làm giảm bộ nhớ cần thiết cho việc đọc tệp. Việc giải nén được thực hiện theo 4 kiểu khác nhau được lưu trữ trong byte dấu hiệu nén.Dữ liệu chứa trong tệp thường dược  tổ chức thành các nhóm dòng (cột) quét của dữ liệu ảnh. Cách tổ chức này lám giảm bộ nhớ cần thiết cho việc đọc tệp. Việc giải nén được thực hiện theo 4 kiểu khác nhau được lưu trữ trong byte dấu hiệu nén.       

File ảnh TIFF dùng để giải quyết vấn đề khó mở rộng của file PCX. Tuy nhiên, với cùng 1 ảnh thì việc dùng file PCX sẽ chiếm ít không gian nhớ hơn. 
 
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #4 on: April 08, 2007, 01:30:29 pm »

Hix chị ơi  :( Đọc cái này đâu đầu lắm :) Chị post lun cách xử lý và các bước xử lý ảnh đi chứ đọc về các định dạng này vừa loằng ngoằng mà không thít thực cho dân Amater như em chẳng hạn  :-"

Thế này thì chị pó tay. Chị chả biết phải giả nhời chú ra làm sao. Shop nó mêng môg vô tận, chị biết đường nào mà pọt luôn các cách xử lý mấy cả các bước xử lý cho chú được :)) ?
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #5 on: April 08, 2007, 01:38:33 pm »

Thôi thế thì chú nghiên cứu cái này vậy. Cái này thì chị cóp được, nhưg mà ko quan tâm lắm nên chưa đọc kỹ, ko biết có hay ko :))


Những công cụ xử lý ảnh cho người không chuyên


Khi bức ảnh kĩ thuật số bị một vài lỗi không mong muốn, chắc hẳn bạn sẽ cố gắng hiệu chỉnh bằng các phần mềm xử lý thích hợp. Sẽ tuyệt vời hơn nếu chương trình đó còn có thể giúp bạn sắp xếp các bức ảnh, đưa chúng lên mạng và thậm chí trình diễn trong slide.

Một trong những khó khăn của việc xử lý ảnh bằng phần mềm là tính năng đa dạng đôi khi đến khó sử dụng của các chương trình. Người sử dụng thường phải làm việc với rất nhiều chức năng và vô khối các nút lệnh trong khi việc việc nhớ chúng và thao tác một cách thành thạo là rất khó khăn. Những người không chuyên trong lĩnh vực này có thể sử dụng các phần mềm được thiết kế riêng nhằm đơn giản hoá công việc mà họ đang làm, có thể kể ra đây Adobe Photoshop Elements 3.0 của hãng Adobe (dùng cho Win 2000 hoặc các phiên bản mới hơn), Microsoft Digital Image Suite 10 của Microsoft (Win 98 hoặc mới hơn) và Paint Shop Pro 9 của Jasc (Win 98 hoặc mới hơn), trong đó, sản phẩm của hãng Adobe được chú ý hơn cả nhờ những tính năng vượt trội.


Bạn đừng nghe đến cái tên Adobe Elements mà cảm thấy sợ hay e ngại, phần mềm này rất dễ sử dụng với những người mới làm quen với các thao tác xử lý ảnh, nó khác xa so với phần mền Photoshop chuyên nghiệp. Bạn không cần phải thao tác nhiều nhưng vẫn có thể khắc phục được rất nhiều lỗi bởi tính năng tự động của phần mềm này. Với chức năng “Smart Fix”, bạn chỉ cần một cú click để sửa những lỗi như thiếu sáng, cân bằng màu hay định hình trong các bức ảnh của mình. Không chỉ tự động sửa các lỗi, chương trình còn cung cấp cho bạn bộ công cụ “Healing Brush” giúp làm rõ những điểm bị mờ trên bức ảnh và bộ lọc ảnh giúp bức hình của bạn trở nên rõ ràng hơn.

Nhưng nếu là người mới dùng tính năng này thì bạn sẽ gặp đôi chút khó khăn vì chương trình không cung cấp nhiều tài liệu hướng dẫn sử dụng. Elements 3.0 còn giống như Photoshop Album, có khả năng sắp xếp các bức ảnh vào album, cho phép đặt các phím tắt với từng bức ảnh, sắp xếp và trình diễn chúng theo thời gian như screen saver. Chương trình còn cho phép bạn đưa các bức ảnh của mình vào bưu thiếp, tải lên các trang web hay trình diễn trên các slide cũng như ghi ra đĩa Video CD.


Với Microsoft Digital Image Suite 10, bạn sẽ gặp đôi chút khó khăn hơn. Mặc dù vẫn có những tính năng như hiệu chỉnh độ sắc nét, màu sắc, thậm chí với cả những bức ảnh được chụp bằng máy ảnh gắn trên điện thoại di động ¦ nhưng phần mềm này lại không có tính năng “hiệu chỉnh tất cả” như Smart Fix của Elements. Nó cũng không cung cấp song song hình ảnh trước và sau khi xử lý để người dùng dễ so sánh và đánh giá công việc của mình.

Suite cũng có ít tính năng sắp xếp ảnh, không có khả năng trình diễn theo thời gian và không có cách nào để người sử dụng đặt một bức ảnh trong nhiều album cùng một lúc. Nó có khả năng trình diễn trên các slide nhưng lại không thể tải lên các trang web, một trong những tính năng quan trọng mà Elements có được.

Tương tự như như phần mềm xử lý ảnh của nói trên Microsoft , Paint Shop Pro 9 của Jasc cũng không thể sánh bằng Adobe Elements 3.0 dù việc sử dụng nó khá dễ dàng. Phần mềm này có các tính năng xử lý nâng cao trong đó có khả năng biến bức ảnh thành một bức tranh hay cắt ảnh theo ý muốn, tính năng undo và xử lý cùng lúc nhiều bức ảnh. Với hướng dẫn sử dụng chi tiết kèm theo phần hướng dẫn học, người dùng sẽ nhanh chóng tiếp cận được với các tính năng của chương trình, thành thạo các thao tác xử lý. Tuy nhiên, Paint Shop Pro lại không trình diễn được slide, không cung cấp tính năng quản lý ảnh.
CTBer tích cực
****


Trance Angels


Đánh giá: +3/-1
Offline Offline
Gender: Male
Posts: 444
« Reply #6 on: April 08, 2007, 02:00:02 pm »

Chú có trật tự ko nào, để chị pọt nốt phần còn lại của "Định dạng ảnh" đã chứ. Giờ chú chưa biết nhưng cái này nó là cơ bản nhất đấy. Ko bít thì đừng có lò mò vào mà làm Shop :))
Hix hồi trước cũng có lần em cầm cả tập tài liệu về Shop roài...mà chẳng đọc được chữ nào vào đầu cả  :D Mặc dù vẫn biết nó là cơ bản thía nhưng mà em ko bít người khác thế nào chứ em thấy cứ ngồi hí hoáy nhiều + thêm 1 số chỉ dẫn của đàn anh đi trước là okie hết  B-) Chứ ngồi đọc 3 cái này hix ko bít có giải quyết cái gì ko :))
Em duyệt cái bài cuối của chị  :P Nó chung chung nhưng lại thiết thực hơn ;)
Dù sao cũng phải "thanh củi bổ vào mặt" (hix câu này lâu lắm rồi mới nói :D) chị pát nữa >:)
Tiếp tục giữ vững phong độ này nha bà chị GM. Em tin box của chị sẽ phát triển tốt >:D<
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #7 on: April 08, 2007, 07:42:06 pm »

hic, chị vốn biết Box chị ế ẩm nhưng ko ngờ lại ế đến nỗi em phải an ủi bằng cái giọng này cơ à? :((
CTBer tích cực
****




Đánh giá: +38/-15
Offline Offline
Gender: Female
Posts: 462
« Reply #8 on: April 08, 2007, 07:52:51 pm »

chị ơi, chị cứ viết tiếp đi.
CTBer tích cực
****


Trance Angels


Đánh giá: +3/-1
Offline Offline
Gender: Male
Posts: 444
« Reply #9 on: April 08, 2007, 08:56:03 pm »

Ui em vẫn động viên chị tiếp tục chiến đầu mà :(( Có cần em hỗ trợ gì em sẵn sàng  ;) Bà chị em là DESIGNER đỉnh nhất CTB mà  ;;) Cố lên ChIAKI  >:D<
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #10 on: April 08, 2007, 09:34:19 pm »

hu hu, được mọi người an ủi động viên bằng những lời lẽ vô căn cứ này làm chị thấy xúc động quá :((
5012vn
Guest
« Reply #11 on: April 08, 2007, 09:52:33 pm »

Tiện đây em cũng hỏi cái

Phần mềm xử lí ảnh chuyên nghiệp nhất có phải là Photoshop ko?

Cái thằng Photoshop CS2 và  Photoshop CS3 thì khác gì nhau?
CTBer tâm huyết
******



Email
Đánh giá: +59/-17
Offline Offline
Posts: 1127
« Reply #12 on: April 10, 2007, 12:53:02 pm »

uh, phần mềm xử lý ảnh chuyên nghiệp và thông dụng hiện nay là Photoshop. Còn nhất hay ko thì chị ko chắc, nhưng mọi cty Design ở VN hiện nay đều dùng phần mềm này.

CS2 và CS3 chỉ khác ở chỗ CS3 được nâng cấp về mặt hiệu ứng. Nhiều hiệu ứng hơn và các hiệu ứng có thể chỉnh sửa cụ thể hơn. Còn nói chung về các lệnh và hệ thống quản lý màu, layer... thì ko có gì thay đổi.

Chị nghĩ ko cần thiết phải dùng CS3, vì các hiệu ứng của CS2 đã quá nhiều mình dùng ko hết rồi. CS3 lại nặng, máy tính khủng chạy mới sướng được. Vả lại, các hiệu ứng chưa chắc đã làm cho ảnh đẹp lên mà quan trọng là ý tưởng của người thiết kế cơ mà :D.
CTBer tâm huyết
******


Đầu gấu lớp Văn

WWW Email
Đánh giá: +2/-1
Offline Offline
Gender: Female
Posts: 525
« Reply #13 on: April 10, 2007, 04:12:09 pm »

Ủng hộ chị Trinh cái nào:D
Em nà em thích Photoshop nhắm í
CTBer tâm huyết
******


Bounty Hunter

WWW Email
Đánh giá: +19/-18
Offline Offline
Gender: Male
Posts: 1576
« Reply #14 on: April 11, 2007, 03:41:32 am »

uh, phần mềm xử lý ảnh chuyên nghiệp và thông dụng hiện nay là Photoshop. Còn nhất hay ko thì chị ko chắc, nhưng mọi cty Design ở VN hiện nay đều dùng phần mềm này.

Và cũng phải nói thêm là phần lớn đều dùng phần mềm.... lậu he he... Trong khi giá thực tế của một bản photoshop cho một máy tính là khoảng 6 - 10tr VNĐ :p

Cứ viết đi chị ạ, thế nào chả có đứa đọc ;)) (động viên đểu)
Pages: [1] 2 3 4 Go Up
  Print  
 

SMF 2.0.2 | SMF © 2011, Simple Machines
Theme designed by CTBers